Tóm tắt
Tranh chấp đòi tài sản là nhà đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn. Tòa cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại nhà đất và hủy giấy chứng nhận đã cấp. Tòa cấp này quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm do kháng cáo không có căn cứ.
| Loại VB | Bản án |
|---|---|
| Số | 83 |
| Ngày | 25/08/2025 |
| Toà án | TANDTC |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Loại vụ việc | Dân sự |
| Quan hệ pháp luật | Tranh chấp đất đai |
| Kết quả xử | Giữ nguyên |
Toà nhận định thế nào
- [1] Đơn kháng cáo của các đương sự là trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp và thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.2.1] Nguồn gốc nhà đất tranh chấp là của vợ chồng nguyên đơn mua lại từ ông Phan B1 và bà Trần Thị N3 theo Giấy nhận tiền cọc ngày 16/6/1969.
- [2.2.3] Sự thừa nhận của bị đơn tại Giấy xác nhận ngày 10/10/1993 là tình tiết không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.2.5] Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật.
- [3] Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị căn nhà còn lại và giá trị phần công trình xây dựng là phù hợp.
- [4] Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn thanh toán lại phần giá trị công trình và công sức giữ gìn, tôn tạo là thỏa đáng.
- [7] Nguyên đơn và bị đơn là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Số trong ngoặc vuông là số đoạn trong bản án gốc.
Nhận định của Toà án — phần mở đầu (nguyên văn)
Đọc lời Toà, đối chiếu lại các ý ở trên.
[1]. Ngày 30/9/2024, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phan Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; ngày 03/10/2024, nguyên đơn bà Lê Thị B kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, Đơn kháng cáo của các đương sự là trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của đương sự: Do các đương sự kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử xem xét các vấn đề sau:
Toàn văn bản án do Unilaw lưu giữ.
Quyết định của Toà án
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị B; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị N;
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
2. Về án phí: căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn bà Lê Thị B và bị đơn bà Phan Thị N được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác về phần chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm thi hành theo Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Điều luật áp dụng
Về nội dung
- khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
Về tố tụng
- khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- khoản 9 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Xem trang tổng hợp toàn bộ bản án về tranh chấp đất đai
Đang vướng tranh chấp tương tự? Liên hệ luật sư Unilaw để được xem xét vụ việc cụ thể.