Tóm tắt
Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và thừa kế giữa nguyên đơn và các đương sự liên quan đối với di sản nhà đất của hai cụ để lại. Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết chia thừa kế di sản theo pháp luật và tính công sức tôn tạo cho bị đơn. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm do không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự.
| Loại VB | Bản án |
|---|---|
| Số | 514/2025/DS-PT |
| Ngày | 29/09/2025 |
| Toà án | TANDTC |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Loại vụ việc | Dân sự |
| Quan hệ pháp luật | Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất |
| Kết quả xử | Giữ nguyên |
Toà nhận định thế nào
- [1] Đơn kháng cáo của các đương sự đều đảm bảo hình thức, thời hạn và đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [1] Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt các đương sự không có kháng cáo theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Các bên đương sự thống nhất cụ Trần Văn L và cụ Phạm Thị R có 11 người con và hai cụ chết không để lại di chúc hợp pháp.
- [4] Nguồn gốc nhà đất tranh chấp rộng khoảng 550,9 m2 thuộc thửa 1483 tờ bản đồ số 10 do cụ L và cụ R tạo lập từ năm 1969.
- [5.1] Ông Trần Văn S có công sức gìn giữ, tôn tạo di sản và phụng dưỡng cha mẹ nên được tính công sức bằng 01 kỷ phần thừa kế theo Án lệ 05/2016/AL.
- [5.2] Di chúc lập ngày 01/01/2000 của cụ Phạm Thị R không hợp pháp theo khoản 3 Điều 655 và Điều 659 Bộ luật dân sự năm 1995 nên di sản được chia theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015.
- [5.4] Cụ R đã cho ông S một phần diện tích đất số 1541 khi còn sống nhưng phát sinh thừa kế của cụ L, nên Tòa án chấp nhận chia thừa kế phần của cụ L và phần cụ R tặng cho.
- [7] Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Số trong ngoặc vuông là số đoạn trong bản án gốc.
Nhận định của Toà án — phần mở đầu (nguyên văn)
Đọc lời Toà, đối chiếu lại các ý ở trên.
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị B, bị đơn ông Trần Văn S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn B2(sinh năm 1942), Trần Văn Đ, Trần Văn T2, Trần Văn N, Trần Văn N1, Trần Thị Anh T3, Trần Văn B4, Trần Văn H, Nguyễn Thị T4, Trần Uyên D đều đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Phiên tòa phúc thẩm được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, những đương sự vắng mặt đều là những người không có kháng cáo và việc vắng mặt của họ không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án vắng mặt họ.
[2] Các bên đương sự đều thống nhất cụ Trần Văn L và cụ Phạm Thị R (R) có 11 người con gồm: Trần Thị B (nguyên đơn), Trần Văn S (bị đơn), Trần Thị B1, Trần Văn Đ, Trần Văn B4, Trần Văn Bé N2, Trần Văn C, Trần Văn H, Trần Văn B2sinh năm 1942, Trần Văn B3sinh năm 1944 (chết ngày 06/12/2019, vợ là Nguyễn Thị T7 – đã ly hôn và các con là Trần Văn N, Trần Văn T2, Trần Văn N1, Trần Thị Anh T3), Trần Văn H1(chết ngày 10/10/2012, vợ là Nguyễn Thị T4và các con là Trần Uyên D, Trần Thị Minh T5, Trần Thanh N3, Nguyễn Trần Ánh T6); Cụ Trần Văn L chết ngày 20/11/1976 không có di chúc. Cụ Phạm Thị R chết ngày 25/12/2003. Bị đơn ông Trần Văn S xuất trình Di chúc của cụ Phạm Thị R lập ngày 01/01/2000, nhưng nguyên đơn bà Trần Thị B và các ông, bà: Trần Văn H, Trần Văn B2(1942), Trần Văn B3(1944) không thừa nhận di chúc mà ông Trần Văn S xuất trình.
Toàn văn bản án do Unilaw lưu giữ.
Quyết định của Toà án
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12 và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị B, bị đơn ông Trần Văn S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn B2(sinh năm 1942), Trần Văn Đ, Trần Văn T2, Trần Văn N, Trần Văn N1, Trần Thị Anh T3, Trần Văn B4, Trần Văn H, Nguyễn Thị T4, Trần Uyên D; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 183/2024/DS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B và yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
2.1.1. Các thừa kế của cụ Trần Văn L và cụ Phạm Thị R có quyền và nghĩa vụ đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số 86/2 khu phố 1, thị trấn Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để chia thừa kế. Sau khi trừ các chi phí liên quan đến việc đấu giá nhà (hoặc bán nhà), số tiền còn lại được chia thành 12 kỷ phần bằng nhau cho mỗi thừa kế được hưởng 01 kỷ phần, gồm các đương sự: Trần Thị B1, Trần Văn B2(sinh năm 1942), Trần Văn Đ, Trần Văn B4, Trần Văn Bé N2, Trần Thị B, Trần Văn C, Trần Văn H, Trần Văn H1(Bà Nguyễn Thị T4và các chị: Trần Uyên D, Trần Thị Minh T5, Trần Thanh N3và Nguyễn Trần Ánh T6 được nhận phần của ông Trần Văn H1), Trần Văn B3(BN) [Các anh, chị: Trần Văn N, Trần Văn T2, Trần Thị Anh T3và Trần Văn N1 được nhận phần của ông Trần Văn B3(BN)]; Ông Trần Văn S được hưởng 02 kỷ phần. Buộc ông Trần Văn S, bà Lưu Kim P và những người thực tế cư trú tại căn nhà số 86/2 khu phố 1, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm bàn giao nhà, đất nêu trên cho cơ quan Thi hành án để phát mãi theo quy định của pháp luật.
2.1.2. Giao cho ông Trần Văn S tiếp tục quản lý sử dụng và lập thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 251,8 m2cho ông Trần Văn S đứng tên đại diện cho các đồng sở hữu. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Trần Văn S có nghĩa vụ yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi phần đất này, số tiền thu được sau khi trừ các chi phí làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chi phí liên quan Thi hành án, số tiền còn lại được chia thành 12 kỷ phần bằng nhau mỗi thừa kế được hưởng 01 kỷ phần, gồm các đương sự: Trần Thị B1, Trần Văn B2(sinh năm 1942), Trần Văn Đ, Trần Văn B4, Trần Văn Bé N2, Trần Thị B, Trần Văn C, Trần Văn H, Trần Văn H1(Bà Nguyễn Thị T4và các chị: Trần Uyên D, Trần Thị Minh T5, Trần Thanh N3và Nguyễn Trần Ánh T6 được nhận phần của ông Trần Văn H1), Trần Văn B3(BN) [Các anh, chị: Trần Văn N, Trần Văn T2, Trần Thị Anh T3và Trần Văn N1 được nhận phần của ông Trần Văn B3(BN)]; Ông Trần Văn S được hưởng 02 kỷ phần.
2.1.3. Công nhận cho ông Trần Văn S được quyền sử dụng Thửa đất số 1541, diện tích 99,1 m2 và được quyền sở hữu căn nhà số 86/2A, Khu phố 1, thị trấn Hóc Môn do ông Trần Văn S và bà Lưu Kim P đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở số 70137011671 ngày 04/6/2004. Diện tích, kích thước, hình thể, giáp giới thửa đất và cấu trúc căn nhà được xác định tại Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường lập ngày 25/10/2019 (Bút lục số 651) và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/9/2019 (Bút lục số 653 - 656). Buộc ông Trần Văn S hoàn trả giá trị kỷ phần thừa kế cho mỗi đồng thừa kế một kỷ phần, gồm các đương sự: Trần Thị B1, Trần Văn B2(sinh năm 1942), Trần Văn Đ, Trần Văn B4, Trần Văn Bé N2, Trần Thị B, Trần Văn C, Trần Văn H, Trần Văn H1(Bà Nguyễn Thị T4và các chị: Trần Uyên D, Trần Thị Minh T5, Trần Thanh N3và Nguyễn Trần Ánh T6 được nhận phần của ông Trần Văn H1), Trần Văn B3(BN) [Các anh, chị: Trần Văn N, Trần Văn T2, Trần Thị Anh T3và Trần Văn N1 được nhận phần của ông Trần Văn B3(BN)]; Giá trị mỗi kỷ phần là 315.379.000 đồng (Ba trăm mười lăm triệu ba trăm bảy mươi chín ngàn đồng); Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B và không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn B2(sinh năm 1942) đòi hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở số 70137011671 do Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn cấp cho ông Trần Văn S và bà Lưu Kim P đối với nhà, đất tại 86/2 khu phố 1, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của các đồng thừa kế không yêu cầu chi phí chăm sóc, mai táng cho cụ Trần Văn L và cụ Phạm Thị R.
2.4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn S không yêu cầu các đồng thừa kế hoàn trả các chi phí sửa chữa nhà và chi phí xây dựng công trình trên đất thuộc di sản thừa kế.
2.5. Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với khởi kiện của bà Trần Thị B yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền cho thuê 02 kiot tại địa chỉ 86/2 khu phố 1, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.6. Các thừa kế của ông Trần Văn H1có quyền khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Trần Văn H1trong vụ án khác khi có yêu cầu.
3. Các đương sự: Trần Thị B, Trần Văn B4, Trần Văn S, Trần Văn B2 (1942), Nguyễn Thị T4, Trần Văn Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm; Mỗi đương sự: Trần Uyên D, Trần Văn H, Trần Văn N, Trần Văn N1, Trần Văn T2, Trần Thị Anh T3 đều phải nộp án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)/người và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)/người theo các biên lai thu tạm ứng án phí số: 0032891, 0032892, 0032893, 0032894, 0032895, 0032896 cùng ngày 22/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về chi phí uỷ thác, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá; về án phí dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Điều luật áp dụng
Về nội dung
- Điều 12 và Điều 29 Nghị quyết số
- khoản 3 Điều 655 và Điều 659 Bộ luật dân sự năm 1995
- Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015
Về tố tụng
- khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự
Xem trang tổng hợp toàn bộ bản án về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Đang vướng tranh chấp tương tự? Liên hệ luật sư Unilaw để được xem xét vụ việc cụ thể.