Tranh chấp về mua bán hàng hóa. Bản án số 11/2025/KDTM-PT ngày 06/09/2025 của TANDTC, phúc thẩm. Toàn văn bản án.
| Loại VB | Bản án |
|---|---|
| Số | 11/2025/KDTM-PT |
| Ngày | 06/09/2025 |
| Toà án | TANDTC |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Loại vụ việc | Kinh doanh thương mại |
| Quan hệ pháp luật | Tranh chấp về mua bán hàng hóa |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẢM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 11/2025/KDTM-PT Ngày: 06/09/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Đắc Minh
2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Cẩm Linh, Thẩm tra viên Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hoàng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 06/9/2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 60/2025/TLPT-KDTM ngày 02/6/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2025/QĐ-PT ngày 18/7/2025 và Quyết định hoãn số 87/ 2025/QĐ-PT ngày 15/8/2025, giữa các bên đương sự:
- Nguyên đơn: Haesim Trading C., L ; địa chỉ : R Tongyuong M, B G - R, S- G, B, South K.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trường H, sinh năm 1992 và ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1995; cùng địa chỉ: Tầng I, Tòa nhà P đường Lạ phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Văn bản ủy quyền 18/4/202; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1982; địa chỉ: phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường S); Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; vắng mặt.
Bị đơn:
1/ Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1; địa chỉ: Tầng C, 28-30-32-34 P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường S, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp: Bà Ứng Thị Ú, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ G, Ấp P, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là phường A, tỉnh Đồng Nai); vắng mặt.
2/ Công ty Trách nhiệm hữu hạn U1; địa chỉ: 1 đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Q, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã T, tỉnh Quảng Ngãi).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Ái K1, sinh năm 1986; địa chỉ: B Chung cư C Lô A đường N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên hệ: 2 Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn U1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của phía nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/10/2022, Công ty H3 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 (sau đây viết tắt là Công ty S1) đã có thỏa thuận giao kết hợp đồng mua bán mặt hàng thủy sản theo hóa đơn chiếu lệ số 01QH-HS/2022 ngày 20/10/2022. Nội dung thỏa thuận như sau: Công ty S1 bán cho Công ty H3 8900kg thủy sản đông lạnh các loại (chi tiết theo hiện tại Phiếu đóng gói số 01QH-HS/2022 ngày 07/11/2022) với tổng trị giá lô hàng là 76.015,00 USD. Công ty H3 đã thanh toán đủ tiền hàng qua Thư tín dụng số M0409221NU00281 ngày 26/10/2022 tại Ngân hàng C1. Theo vận đơn số HCMPUS221109 do Công ty Trách nhiệm hữu hạn U1 (sau đây viết tắt là Công ty U2) phát hành ngày 07/11/2022 thể hiện số hàng trên đã được đóng cont và bốc lên tàu mang số hiệu SM JAKATAR 2213E ở Cảng Thành phố H để chuyển đến Cảng B, Hàn Quốc vào ngày 25/11/2022. Cùng ngày 07/11/2022, Công ty S1 đã phát hành Hóa đơn thương mại số 01QH-HS/2022.
Quá thời hạn nhận hàng đã ghi tại vận đơn mà Công ty H3 vẫn không nhận được hàng mua của Công ty S1. Mặc dù, đã cố gắng liên lạc nhiều lần nhưng Công ty H3 vẫn không liên hệ được với Công ty S1. Sau đó, Công ty H3 liên hệ với đại lý hãng tàu của U tại Hàn Quốc để tìm hiểu về số hàng hóa trên thì được biết tại Cảng B không có hàng hóa của Công ty S1 cập cảng theo số cont và số tàu như vận đơn ngày 07/11/2022 thể hiện. Công ty H3 nghi ngờ vận đơn trên đã được phát hành khống nên không có hàng hóa cập cảng.
2
Do Công ty S1 không thực hiện đúng nghĩa vụ cơ bản trong hợp đồng nên Công ty H3 yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy bỏ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty H3 và Công ty S1; Buộc Công ty S1 và Công ty U2 liên đới hoàn trả cho Công ty H3 số tiền mà Công ty H3 đã thanh toán qua thư tín dụng là 76,015.00 usd tương đương 1.799.427.080 đồng (tính theo tỷ giá tại thời điểm nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là 23.672đồng/USD); Buộc Công ty S1 có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả tính từ ngày nộp đơn khởi kiện 18/5/2023 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất 10%/năm.
Phía bị đơn trình bày:
Phía C2:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn không cử đại diện đến tòa, vắng mặt không lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phía Công ty U2 trình bày:
Tại Biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 05/8/2024, bà Huỳnh Ái K1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty U2 trình bày:
Từ năm 2019, Công ty U2 và Công ty S1 (do bà Nguyễn Thị Thùy H2 là người đại diện hợp pháp) có ký kết hợp đồng dịch vụ về việc giao nhận vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển, đường hàng không. Căn cứ theo hợp đồng này, Công ty U2 đã thực hiện dịch vụ thủ tục về vận chuyển xuất nhập khẩu cho Công ty S1. Trong quá trình thực hiện dịch vụ, nhân viên Công ty U2 có ký bộ vận đơn ngày 07/11/2022 đối với lô hàng thủy sản do Công ty S1 bán cho Công ty H3, tuy nhiên khi Công ty H3 thông báo thì Công ty U2 mới biết bà H2 không thực hiện việc giao bốc hàng xuống tàu như thủ tục mà phía Công ty U2 đã thực hiện mà chỉ lấy bộ chứng từ vận đơn để giải ngân tiền tại Ngân hàng.
Sau khi được Tòa án triệu tập trong vụ kiện của Công ty H3 thì Công ty U2 nhận thấy mình cũng là nạn nhân của Công ty S1 do hiện nay Công ty S1 vẫn còn nợ Công ty U2 số tiền 420.922.792 đồng. Công ty U2 đã làm đơn tố cáo bà Nguyễn Thị Thùy H2 tại Cơ quan Công an quận B về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty H3 về việc buộc Công ty U2 có nghĩa vụ liên đới trả lại tiền hàng cho Công ty H3.
3
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 307/2024/KDTM-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Haesim Trading C., Ltd.
1.1/ Hủy Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Haesim Trading C., L và Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 theo Hóa đơn chiếu lệ số 01QH-HS/2022 do Công ty S1 phát hành ngày 20/10/2022.
1.2/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Haesim Trading C., L số tiền 1.709.449.808 (Một tỷ bảy trăm lẻ chín triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm lẻ tám) đồng.
1.3/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 có nghĩa vụ trả cho Haesim Trading C., L số tiền lãi là 233.149.959 đồng (Hai trăm ba mươi ba triệu một trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm năm mươi chín) đồng.
2/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Haesim Trading C., L về việc :
2.1/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Haesim Trading C., L số tiền 89.977.272 (T mươi chín triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi hai) đồng.
2.2/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 có nghĩa vụ trả cho Haesim Trading C., L số tiền lãi là 12.271.000 ( Mười hai triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng.
Kể từ ngày Haesim Trading C., L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian
chưa thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
lý do:
Ngày 07/10/2024, Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 làm đơn kháng cáo, nêu
Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi của Cty, đề nghị phúc xử lại bác khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
4
Phía người kháng cáo Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 cho rằng Công ty TNHH S1 là đơn vị đã chiếm đoạt số tiền từ tài khoản ngân hàng do nguyên đơn chuyển đến chứ Công ty U2 không hề nhận được số tiền trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc liên đới bồi thường là chưa đúng quy định của pháp luật cũng như chưa đúng với thực tế, đề nghị xem xét lại đối với phần bồi thường này.
Đại diện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc phẩm thì cho rằng bản án sơ thẩm đã căn cứ vào yếu tố lỗi mà phía Công ty U2 đã ký vận đơn để từ đó tạo
điều kiện cho Công ty S1 chiếm được tiền. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử lý bằng cách liên đới nghĩa vụ để buộc hai đơn vị bị đơn bồi thường cho phía nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa nghe đương sự trình bày và nghe Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu quan điểm. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Công ty U2 làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Về phương thức thanh toán với hình thức L/C theo hợp đồng do các bên ký kết, thì người bán chỉ được nhận tiền hàng khi đã thực hiện giao hàng và xuất trình đầy đủ bộ chứng từ bản gốc cho ngân hàng.
Ngân hàng H4 đã căn cứ vào bộ chứng từ do Công ty TNHH S1 cung cấp, bao gồm có vận đơn số MCMPUS-221109 của Công ty TNHH U2 phát hành vào ngày 07/11/2022, nên từ đó phía nguyên đơn Haesim T1 đã giải ngân cho Công ty TNHH S1 số tiền 72.214 USD. Như vậy, Công ty TNHH S1 đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng, nên phải trả lại tiền cho Haesim T1 là phù hợp.
[2.2] Tuy nhiên, do các bên thỏa thuận thanh toán bằng hình thức L/C, nên việc Công ty TNHH S1 được thanh toán hết tiền hàng là phụ thuộc vào vận đơn của Công ty TNHH U2 cung cấp.
Thực tế thì Công ty TNHH S1 không đóng hàng vào container và không xếp hàng hóa xuống tàu, nhưng Công ty TNHH U2 vẫn ký vận đơn về việc có đóng và xếp hàng hóa xuống tàu để Công ty TNHH S1 sử dụng vận đơn này thực hiện việc giải ngân đối với hàng hóa trên tại ngân hàng H4, làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của Haesim T1. Cụ thể là Haesim Trading không nhận được hàng, nhưng vẫn bị khấu trừ tiền hàng.
5
Việc thiệt hại của Công ty H5 là do Công ty TNHH S1 có hành vi gian dối trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng, đồng thời lỗi cũng do Công ty TNHH U2 trong dịp phát hành vận đơn không đúng trình tự, thủ tục, dẫn đến việc giải ngân không đúng quy định. Nếu Công ty TNHH U2 thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thì Công ty TNHH S1 không thể chiếm dụng được số tiền của Công ty H3. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định Công ty H3 yêu cầu Công ty TNHH U2 có nghị vụ liên đới trả tiền hàng cho H6 là có căn cứ, hợp pháp.
[2.3] Tại phiên tòa Phúc thẩm, Công ty TNHH U2 kháng cáo cho rằng không nhận tiền của phía nguyên đơn, nhưng có lỗi để thất thoát số tiền đó. Ngoài ra, C3 cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phi kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên phía người kháng cáo phải chịu theo luật định.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Bởi các lẽ trên; Áp dụng Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH U2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 37; khoản 3 Điều 38; khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng Điều 34 và Điều 306 Luật Thương mại; Áp dụng các Điều 423, 424, 427 Bộ luật Dân sự 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Haesim Trading C., Ltd.
1.1/ Hủy Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Haesim Trading C., L và Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 theo Hóa đơn chiếu lệ số 01QH-HS/2022 do Công ty S1 phát hành ngày 20/10/2022.
1.2/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Haesim Trading C., L số tiền 1.709.449.808 (Một tỷ bảy trăm lẻ chín triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm lẻ tám) đồng.
6
1.3/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 có nghĩa vụ trả cho Haesim Trading C., L số tiền lãi là 233.149.959 đồng (Hai trăm ba mươi ba triệu một trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm năm mươi chín) đồng.
Kể từ ngày Haesim Trading C., L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian
chưa thi hành án.
2/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Haesim Trading C., L về việc :
2.1/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Haesim Trading C., L số tiền 89.977.272 (T mươi chín triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi hai) đồng.
2.2/ Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 có nghĩa vụ trả cho Haesim Trading C., L số tiền lãi là 12.271.000 ( Mười hai triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng.
3/ Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn U2 chịu số tiền 2.000.000đồng, được khầu trừ số tiền 2.000.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo, theo Biên lai thu số 0041765 ngày 31/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) như vậy đã nộp xong án phí KDTM phúc thẩm.
4/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
5/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7